Kết quả điều tra 50 phiếu phỏng vấn, tri thức bản địa về y học cổ truyền của người Khmer tại Sóc Trăng đã ghi nhận 44 loài cây thuộc 24 họ thực vật, trong đó các họ được dùng nhiều nhất là Họ Cúc (Asteraceae), Họ Đậu (Fabaceae), và Họ Cà phê (Rubiaceae). Sinh cảnh sống chủ yếu tại vườn nhà (59,1%). Các bộ phận dùng như củ, hoa, nhựa mủ, vỏ thân... đều được sử dụng, nhưng phổ biến nhất là toàn cây (40,9%), tiếp theo là thân và lá (25%). Điều trị 8 nhóm bệnh như ngoài da, tê thấp, đau nhức xương khớp, tiêu hóa, hô hấp và an thần. Cách thức chế biến bao gồm sắc lấy nước uống, sắc nước để tắm, bôi ngoài da, ăn, và làm thuốc hít. Những số liệu này cho thấy tri thức bản địa về y học cổ truyền của đồng bào người Khmer rất đa dạng, thiết thực và phù hợp với nhu cầu của cộng đồng tại tỉnh Sóc Trăng.
Các chất chống oxi hóa từ thực vật ngày càng được quan tâm nhờ độ an toàn và hiệu quả cao. Cây Ngũ sắc có tên khoa học là Lantana camara L.là loài cây phổ biến ở vùng nhiệt đới, có nhiều công dụng trong y học dân gian. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hàm lượng polyphenol, flavonoid và hoạt tính chống oxi hóa in vitro của cao chiết từ thân và lá cây Ngũ sắc bằng ba phương pháp: DPPH, năng lực khử (RP) và FRAP. Kết quả cho thấy cao chiết ethanol có hàm lượng polyphenol và flavonoid cao hơn so với cao nước (70,28 ± 0,76 mg GAE/g và 41,63 ± 0,89 mg QE/g). Hoạt tính chống oxi hóa của cao ethanol vượt trội hơn qua cả ba phương pháp với giá trị IC₅₀ DPPH = 38,24 µg/mL (so với 50,38 µg/mL của cao nước); Abs₀.₅ RP = 44,38 µg/mL (so với 79,78 µg/mL); và Abs₀,₅ FRAP = 27,02 µg/mL (so với 31,74 µg/mL). Kết quả chứng minh các cao chiết cây Ngũ sắc có hiệu quả chống oxi hóa in vitro mạnh, mở ra tiềm năng ứng dụng của cây Ngũ sắc làm nguồn nguyên liệu tự nhiên cho dược phẩm và thực phẩm chức năng.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng phân bố, trữ lượng và bảo tồn của các loài cây thuốc thuộc chi Nervilia tại tỉnh Ninh Thuận. Kết quả điều tra thực trạng phân bố ngoài tự nhiên của các loài cây thuốc thuộc chi Thanh thiên quỳ (Nervilia spp.) tại tỉnh Ninh Thuận đến thời điểm hiện tại các loài này chỉ mới ghi nhận có phân bố tại khu vực khí hậu mát, độ ẩm cao giáp tỉnh Lâm Đồng là ở 2 huyện Bác Ái và huyện Ninh Sơn. Phân bố trong tự nhiên tại hai huyện Bác Ái và huyện Ninh Sơn của các loài Thanh thiên quỳ (Nervilia spp.) tương đối đồng đều đa số những loài này mọc rải rác ven suối và trên sườn dốc của rừng thường xanh trên núi thấp, mọc co cụm thành đám trên các sườn núi và gần các khu vực tre, nứa với độ cao phân bố trãi dài từ 200 - 1.000 m so với mực nước biển. Cụ thể: loài Thanh thiên quỳ lá xếp (Nervilia plicata (Andr.) Schltr) có số cây trung bình là 1620 cây/ha, trữ lượng dược liệu tiềm năng trung bình là 14,42 kg/ha. Loài Trân châu xanh (Nervilia concolor (Blume) Schltr.) với với 1327 cây/ha, trữ lượng dược liệu tiềm năng trung bình 12,73 kg/ha. Loài Thanh thiên quỳ (Nervilia simplex (Thouars) Schltr.) có số cây trung bình là 1563 cây/ha, trữ lượng dược liệu tiềm năng là 4,85 kg/ha. Thanh thiên quỳ (Nervilia mackinnonii (Duthie) Schltr.) có số cây trung bình là 933 cây/ha, trữ lượng dược liệu tiềm năng là 0,39 kg/ha. Đề tài đã khoanh vùng bảo tồn nguyên vị các loài cây thuốc Thanh thiên quỳ 1.000 m2tại Vườn Quốc gia Phước Bình. Xây dựng 01 vườn bảo tồn chuyển vị tại vườn thực vật Vườn Quốc gia Phước Bình (100 m2) và 01 vườn bảo tồn chuyển vị các loài cây thuốc Thanh thiên quỳ tại Vườn Bảo tồn gen và giống cây thuốc khu vực Nam Bộ thuộc Trung tâm Sâm và Dược liệu Tp. Hồ Chí Minh
Mở đầu: Sử dụng thuốc không hợp lý, các vấn đề liên quan đến thuốc (Drug-Related Problems - DRPs) và tương tác thuốc bất lợi là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị nội trú.Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc, phân tích một số DRPs thường gặp và đánh giá các tương tác thuốc bất lợi trên bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2022. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 380 hồ sơ bệnh án nội khoa. Phân tích tình hình kê đơn, các sai sót liên quan và sử dụng phần mềm Medscape, Drugs.com để tra cứu tương tác thuốc. Kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân được kê ≥ 5 thuốc là 3,4%. Các sai sót về thời điểm dùng thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất (9,0%). Có 24,5% đơn thuốc có ít nhất một tương tác, trong đó 3,2% là tương tác có ý nghĩa lâm sàng ở mức độ nghiêm trọng. Nhóm thuốc có DRPs cao gồm PPIs, NSAIDs và thuốc tim mạch. Tỷ lệ đơn thuốc được đánh giá là an toàn, hợp lý đạt 3,2%. Kết luận: Tình trạng đa thuốc (polypharmacy), sai sót trong kê đơn và tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng là những vấn đề đáng lưu tâm. Cần tăng cường vai trò của dược sĩ lâm sàng và chuẩn hóa quy trình kê đơn để nâng cao chất lượng điều trị.
Quả Nhàu là một dược liệu giàu tiềm năng đã được ứng dụng từ lâu trong y học cổ truyền để hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp và nhiều bệnh mạn tính. Kết quả phân tích hóa học cho thấy nhóm iridoid là thành phần chính, trong đó acid deacetylasperulosidic chiếm tỷ lệ lớn nhất. Từ cơ sở này, nghiên cứu được tiến hành nhằm tối ưu hóa quy trình chiết xuất quả Nhàu, hướng đến việc thu nhận cao chiết có hàm lượng iridoid toàn phần cao với sự hỗ trợ của phần mềm Design-Expert 13.0. Nguyên liệu được kiểm nghiệm chất lượng theo chuyên luận riêng trong Dược điển Việt Nam V trước khi khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất chiết và hàm lượng iridoid. Ba thông số quan trọng được lựa chọn là thời gian chiết, nhiệt độ và nồng độ ethanol. Kết quả tối ưu xác định điều kiện thích hợp gồm 1,8 giờ, ethanol 85% và 75°C, cho hiệu suất chiết 33,12 ± 0,37% và hàm lượng iridoid toàn phần 214,20 ± 3,93 mg DAA/g, phù hợp với giá trị dự đoán từ mô hình. Kết quả này cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc phát triển các chế phẩm cao chiết chuẩn hóa từ quả Nhàu, đảm bảo chất lượng ổn định và hiệu quả điều trị được cải thiện.