Trang chủ/

Bài báo

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn khách sạn bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh của khách hàng thế hệ Y
Số trang 18
Từ khóa: Hành vi tiêu dùng bền vững, khách sạn bền vững, thế hệ Y, ý định lựa chọn khách sạn
|| || Chi tiết

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn khách sạn bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh của khách hàng thế hệ Y. Mô hình nghiên cứu gồm bốn yếu tố: (1) Thái độ, (2) Chuẩn mực chủ quan, (3) Kiểm soát hành vi nhận thức và (4) Giá trị cá nhân và đạo đức tiêu dùng nhằm khám phá việc tiêu dùng khách sạn bền vững của khách hàng thế hệ Y. Dữ liệu khảo sát 328 người trả lời, có nhận thức về khách sạn bền vững, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Sau khi phân tích nhân tố khám phá, bốn biến độc lập được tái cấu trúc thành ba biến độc lập: (1) Các yếu tố tâm lý - xã hội, (2) Thái độ và (3) Giá trị cá nhân và đạo đức tiêu dùng. Kết quả hồi quy cho thấy cả ba yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định lựa chọn khách sạn bền vững, trong đó các yếu tố tâm lý - xã hội có mức độ tác động mạnh nhất. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số hàm ý quản trị cho các khách sạn bền vững tại Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thu hút nhóm khách hàng thế hệ Y.

Tính liên tục của nghiệm mô hình lancaster mở rộng
Số trang 7
Từ khóa: Mô hình Lancaster mở rộng, tính không lồi, tính liên tục Lipschitz trên
|| || Chi tiết

Bài báo này tập trung giải quyết việc phân tích tính ổn định của mô hình Lancaster mở rộng (ELM), vốn là một mô hình quan trọng trong lý thuyết tiêu dùng. Các phương pháp phân tích ổn định hiện có thường gặp những hạn chế do cấu trúc không lồi của miền khả thi cũng như khả năng tồn tại đa nghiệm trong ELMs. Trong nghiên cứu này, một phương pháp mới được đề xuất nhằm thiết lập các điều kiện bảo đảm tính liên tục Lipschitz trên của ánh xạ nghiệm theo tham số ưu tiên, mà không cần giả thiết về tính duy nhất của nghiệm.

Pháp luật kinh doanh trên nền tảng Internet. Lý luận và thực tiễn
Số trang 12
Từ khóa: Công nghệ số, Internet, kinh doanh, kinh doanh trên nền tảng Internet pháp luật
|| || Chi tiết

Kể từ giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế ở Việt Nam, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giao dịch điện tử đã được chính thức thừa nhận. Trên cơ sở đó, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trên nền tảng Internet đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện theo thời gian. Sự phát triển của các mô hình kinh doanh trên nền tảng Internet cho thấy rằng các hoạt động kinh tế trong kỷ nguyên số không chỉ đặt ra những yêu cầu mới đối với các chủ thể kinh doanh mà còn phản ánh sự tiến bộ của cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Bài viết này khái quát khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh trên nền tảng Internet tại Việt Nam; đồng thời phân tích những điểm mạnh và những hạn chế còn tồn tại của các quy định pháp luật có liên quan, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao cơ chế pháp lý và thúc đẩy phát triển nền kinh tế số trong thời gian tới.

Đo lường sự hài lòng của khách hàng thế hệ Z. trường hợp của các homestay ở thành phố Hồ Chí Minh
Số trang 17
Từ khóa: Homestay, Khách hàng thế hệ Z, SERVQUAL, Sự hài lòng của khách hàng
|| || Chi tiết

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng thuộc thế hệ Z đối với dịch vụ homestay tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman, Zeithaml và Berry (1988). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi đối với khách hàng thế hệ Z đã từng sử dụng dịch vụ homestay, với 163 mẫu hợp lệ được đưa vào phân tích. Các phương pháp phân tích được sử dụng bao gồm thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy tuyến tính. Phân tích EFA đã xác định ba nhân tố chính, trong đó các yếu tố độ tin cậy, sự cảm thông và năng lực phục vụ được gộp thành một nhân tố mới (REA). Kết quả hồi quy chỉ ra rằng REA là yếu tố tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng thế hệ Z, tiếp theo là yếu tố phương tiện hữu hình, trong khi mức độ đáp ứng không có ý nghĩa thống kê. Từ những kết quả này, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ các nhà quản lý homestay nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng sự hài lòng của khách hàng thế hệ Z.

Nghiên cứu tri thức bản địa trong y học cổ truyền của người Khmer tại tỉnh Bạc Liêu
Số trang 16
Từ khóa: Bạc Liêu, Đồng bào Khmer, phỏng vấn, tri thức bản địa, y học cổ truyền
|| || Chi tiết

Nghiên cứu nhằm ghi nhận và đánh giá tri thức bản địa trong y học cổ truyền của cộng đồng người Khmer, tỉnh Bạc Liêu thông qua điều tra thực địa kết hợp phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 214 loài cây thuốc thuộc 187 chi và 79 họ thực vật. Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 211 loài (98,6%), 184 chi (98,4%) và 76 họ (96,2%). Các ngành Tảo nâu (Phaeophyta), Dương xỉ (Pteridophyta) và Thông (Pinophyta) có mức độ đại diện rất thấp, mỗi ngành chỉ ghi nhận một loài (0,47%). Các loài cây thuốc chủ yếu phân bố trong vườn nhà (45,79%), phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa tri thức y học cổ truyền và không gian sinh hoạt cộng đồng. Xét theo dạng sống, nhóm cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao nhất với 96 loài (44,9%). Bộ phận sử dụng khá đa dạng, bao gồm rễ, củ, thân, vỏ, lá, hoa, nhựa, mủ và toàn cây; trong đó nhóm bộ phân toàn cây được sử dụng phổ biến nhất với 80 loài (29,74%). Giá trị sử dụng được phân thành 19 nhóm công dụng. Nhóm bệnh liên quan đến gan, thận, mật và đường tiết niệu có số loài được sử dụng nhiều nhất (48 loài, 15,38%). Các phương thức chế biến chủ yếu gồm sắc lấy nước, chế biến thực phẩm, nấu nước tắm, bôi ngoài da và xông – hít. Kết quả nghiên cứu cho thấy tri thức bản địa về y học cổ truyền của người Khmer tại Bạc Liêu có tính đa dạng cao, gắn bó với điều kiện sinh thái địa phương và có giá trị quan trọng đối với bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc.