Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng ở gà bình định nuôi tại trại gà tư nhân tỉnh Vĩnh Long

Nguyễn Minh Trí,Lê Văn Phong

Ấn phẩm
Số 24 - 2026
Thông tin
Title: Study on some epidemiological characteristics of Coccidiosis in Binh Dinh chickens raised at a private farm in Vinh Long province

Tác giả liên hệ: Nguyễn Minh Trí

Ngày nhận bài: 11/01/2026

Ngày phản biện: 12/01/2026

Ngày duyệt đăng: 24/02/2026
Bản đầy đủ
  Xem PDF

Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện tại trại gà tư nhân xã Tân Long Hội, tỉnh Vĩnh Long nhằm khảo sát một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng trên gà Bình Định từ 2–6 tuần tuổi. Tổng số 150 mẫu phân được thu thập và kiểm tra bằng phương pháp phù nổi sử dụng dung dịch NaCl bão hòa để phát hiện noãn nang cầu trùng. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm chung là 41,33%, trong đó tỷ lệ nhiễm cao nhất ở gà lứa tuổi 3-4 tuần, đặc biệt ở gà 4 tuần tuổi đạt 68%. Gà có biểu hiện phân lẫn máu ghi nhận tỷ lệ dương tính 100%, trong khi gà có phân bình thường vẫn phát hiện 21,19% mẫu nhiễm, cho thấy sự tồn tại của nhiễm tiềm ẩn trong đàn. Phác đồ điều trị được áp dụng tại trại cho hiệu quả tích cực, tỷ lệ khỏi bệnh tăng dần qua các mốc theo dõi và đạt 100% sau 7 ngày điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh cầu trùng vẫn lưu hành ở mức tương đối cao tại cơ sở, cần tăng cường biện pháp quản lý và phòng bệnh, đặc biệt ở giai đoạn gà 3-4 tuần tuổi nhằm hạn chế thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi.

Từ khóa: Cầu trùng, dịch tễ học, hiệu quả điều trị, gà Bình Định, tỷ lệ nhiễm


Abstract

This study was conducted at a private chicken farm in Tan Long Hoi commune, Vinh Long province, to investigate several epidemiological characteristics of coccidiosis in Bình Định chickens aged 2-6 weeks. A total of 150 fecal samples were collected and examined using the flotation technique with saturated NaCl solution to detect coccidian oocysts. The results showed an overall infection rate of 41.33%, with the highest prevalence observed in chickens aged 3-4 weeks, particularly at 4 weeks of age, reaching 68%. Chickens exhibiting bloody diarrhea showed a 100% positive rate, whereas 21.19% of chickens with normal feces were still found to be infected, indicating the presence of subclinical infection within the flock. The treatment regimen applied at the farm yielded positive results, with the recovery rate gradually increasing over the monitoring periods and reaching 100% after 7 days of treatment. The findings indicate that coccidiosis remains at a relatively high prevalence at the farm, emphasizing the need to strengthen management and preventive measures, especially during the 3-4-week age period, in order to minimize economic losses in poultry production.

Keywords: Binh Đinh chickens, coccidiosis prevalence, epidemiology, treatment efficacy