Nghiên cứu nhằm mục tiêu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của các dự án thanh niên khởi nghiệp tại tỉnh Hậu Giang - địa phương có nhiều dự án khởi nghiệp nhưng còn thiếu tính bền vững. Trên cơ sở tổng hợp ba nền tảng lý thuyết gồm: hiệu quả tổ chức, lý thuyết dựa trên nguồn lực và mô hình CIPP, nhóm nghiên cứu xây dựng một mô hình gồm bốn yếu tố chính: (1) chính sách hỗ trợ, (2) năng lực cá nhân, (3) năng lực quản trị, và (4) mạng lưới hỗ trợ. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 150 chủ thể tham gia dự án khởi nghiệp thực tế và sử dụng các kỹ thuật như Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính để kiểm định mô hình. Kết quả cho thấy cả bốn yếu tố đều tác động tích cực đến kết quả hoạt động, trong đó chính sách hỗ trợ có ảnh hưởng mạnh nhất. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp như tăng cường đào tạo kỹ năng điều hành, cải thiện chính sách hỗ trợ và kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp tại địa phương
Tinh dầu thực vật là hỗn hợp các hợp chất bay hơi có nguồn gốc tự nhiên, mang giá trị kinh tế và sinh học cao, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực y - dược, thực phẩm, mỹ phẩm và kỹ nghệ. Tại Việt Nam, nguồn nguyên liệu thực vật đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành tinh dầu; tuy nhiên, hoạt động sản xuất hiện nay chủ yếu ở quy mô nhỏ, với thiết bị đơn giản và công nghệ truyền thống. Bài báo này tổng quan các đặc điểm cơ bản của tinh dầu thực vật, bao gồm thành phần, tính chất vật lý và khả năng ứng dụng, đồng thời tổng hợp các phương pháp và thiết bị sản xuất tinh dầu đang được áp dụng tại Việt Nam. Nội dung tập trung phân tích nguyên lý hoạt động của các kỹ thuật chưng cất lôi cuốn bằng hơi nước, trích ly bằng dung môi, chiết xuất có hỗ trợ vi sóng và một số phương pháp liên quan. Qua đó, bài báo làm rõ thực trạng công nghệ sản xuất tinh dầu trong nước và cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, cải tiến và phát triển các hệ thống chiết xuất tinh dầu phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm tít nuôi trong hệ thống lọc tuần hoàn. Thí nghiệm được thực hiện trong hệ thống lọc tuần hoàn bố trí trong 3 bể nuôi (4 m³). Mỗi bể gồm 40 rỗ nhựa, mỗi nghiệm thức 10 rỗ gồm: (1) cá rô phi, (2) nghêu lụa, (3) tép rong và (4) cá biển tạp. Tôm được nuôi trong 60 ngày, theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều dài, trọng lượng), tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Kết quả cho thấy tôm tít sử dụng cá tạp có tăng trưởng cao nhất về chiều dài (18,5±0,62 cm/con) và trọng lượng (73,0±2,40 g/con), với FCR thấp nhất (1,70±0,06), đồng thời có chi phí thức ăn thấp (168±1,26 ngàn đồng/kg tôm). Từ kết quả có thể khuyến nghị cá biển tạp là thức ăn phù hợp nhất cho nuôi tôm tít trong hệ thống nuôi tuần hoàn.
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 8 năm 2025 tại trại sản xuất giống thủy sản phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng protein khác nhau lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá Chạch lấu giai đoạn cá giống. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 05 nghiệm thức có hàm lượng protein khác nhau (29,4%, 34,3%, 39,5%, 44,6% và 49,7%), mỗi nghiệm thức được lặp lại 03 lần. Cá Chạch lấu (1,41±0,04 g và 7,46 cm) được ương trong khay nhựa 60 lít nước với mật độ 1 con/lít trong thời gian 3 tháng. Các chỉ tiêu được theo dõi của nghiên cứu gồm tỷ lệ sống, tăng trưởng khối lượng và chiều dài của cá, hệ số tiêu tốn thức ăn, hiệu quả sử dụng protein và hàm lượng protein trong cơ thịt cá. Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ sống của cá không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng protein trong thức ăn. Tuy nhiên ở nghiệm thức 49,7% protein, cá có tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng và chiều dài đạt cao nhất (0,144 g/ngày và 0,102 cm/ngày) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa các nghiệm thức. Ngoài ra, chỉ số FCR đạt thấp nhất (1,33) ở nghiệm thức cá ăn thức ăn mức protein 49,7%. Bên cạnh đó, hàm lượng protein trong thịt cá cũng đạt cao nhất (70,1%) ở nghiệm thức cá ăn thức ăn mức protein 49,7%.
Bò tót (Bos gaurus) thuộc họ Bò (Bovidae), là một trong những loài thú móng guốc đang bị đe dọa tuyệt chủng. Vườn Quốc gia Phước Bình có vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn loài bò tót, quần thể bò tót lai từ kết quả đề tài nghiên cứu trước đây. Nghiên cứu này sử dụng số liệu theo dõi khả năng sinh trưởng và phát triển quần đàn bò tót lai tại Vườn Quốc gia Phước Bình nhằm bảo tồn nguồn gen bò tót. Kết quả nghiên cứu đã xác định VQG Phước Bình là môi trường chăn thả tự nhiên bán hoang dã thích hợp của quần đàn bò tót lai với 11 cá thể. Đây là cơ cở để xây dựng các kế hoạch bảo tồn và khai thác nguồn gen loài động vật quý hiếm này.